Eurovision Song Contest
| Eurovision Song Contest | |
|---|---|
Logo có hình trái tim của Eurovision
|
|
| Thể loại | cuộc thi ca hát |
| Sáng lập | Marcel Bezençon |
| Dẫn chương trình | List of presenters |
| Hòa âm, phối khí | Marc-Antoine Charpentier |
| Nhạc dạo | Te Deum (Prelude (Marche en rondeau)) |
| Quốc gia | List of countries |
| Ngôn ngữ | tiếng Anh và tiếng Pháp |
| Sản xuất | |
| Địa điểm | List of host cities |
| Thời lượng | 2 giờ (Bán kết) 3 giờ, 15 phút (Chung kết) 4 giờ (Chung kết 2015) |
| Công ty sản xuất | European Broadcasting Union |
| Nhà phân phối | Eurovision |
| Trình chiếu | |
| Định dạng hình ảnh | 576i (SDTV) (1956-hiện tại) 1080i (HDTV) (2007-hiện tại) |
| Phát sóng | 24 tháng 5 năm 1956 – hiện tại |
| Thông tin khác | |
| Chương trình liên quan | Eurovision Young Musicians (1983-) Eurovision Young Dancers (1985-) Junior Eurovision Song Contest (2003-) Eurovision Dance Contest (2007-2008) |
| Liên kết ngoài | |
| Official website | |
| Trang mạng chính thức khác | |
Eurovision Song Contest, Cuộc thi Ca khúc Truyền hình châu Âu, còn gọi là Eurovision, là một cuộc thi về các ca khúc được tổ chức luân phiên hàng năm giữa các nước thành viên Liên hiệp Phát sóng châu Âu (European Broadcasting Union - EBU), nước chiến thắng cuộc thi lần trước sẽ giành quyền đăng cai cuộc thi kế tiếp, thường là vào tháng 5. Hiện cuộc thi đang là một trong những chương trình truyền hình lâu đời trên thế giới[1] và cũng là một trong những sự kiện phi thể thao được xem nhiều nhất trên thế giới, với số khán giả theo dõi trực tiếp trong những năm gần đây là từ 100 triệu và 600 triệu trên toàn cầu.[2][3]
Cuộc thi được tổ chức lần đầu vào năm 1956 và được biết với tên tiếng Anh là "Eurovision Grand Prix", tiếng Pháp là "Grand Prix Eurovision de la Chanson Européenne". Đa số các quốc gia trong Châu Âu đã tham gia ít nhất một lần trong lịch sử của cuộc thi, và vài quốc gia không thuộc cộng đồng châu Âu cũng tham gia như Israel và Maroc. Ngày nay, Eurovision cũng đã được phát sóng bên ngoài châu Âu đến những quốc gia và vùng lãnh thổ như Argentina, Australia, Brazil, Brunei, Canada, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Jordan, Malaysia, Mexico, New Zealand, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Nam Phi, Suriname, Đài Loan, Thái Lan, Hoa Kỳ, Uruguay, Venezuela và Việt Nam mặc dù những nước này không tham gia.[4][5][6] Cuộc thi được truyền trực tiếp qua tivi, radio. Từ năm 2000, cuộc thi bắt đầu phát sóng qua Internet trên trang web eurovision.tv.[7]
Ngoài ra, còn có Junior Eurovision Song Contest được tổ chức hàng năm, từ năm 2003, cho trẻ em từ 8 đến 15 tuổi,[8] Eurovision Dance Contest, Eurovision Young Musicians và Eurovision Young Dancers
Mục lục
Thể lệ và bình chọn[sửa | sửa mã nguồn]
Các phiên bản của cuộc thi thay đổi từng năm, tuy nhiên, những thể lệ cơ bản vẫn là:
Ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]
- Các ca khúc được trình bày không có lời lẽ phỉ báng, lỗ mãng, không nhằm mục tiêu chính trị, không kích động chiến tranh.
- Tính đến thời điểm tham dự cuộc thi, tất cả những bài hát tham dự phải là bài hát mới, chưa từng được biểu diễn trước công chúng hoặc biểu diễn vì mục đích thương mại. Các bài hát đó không được phát hành trước ngày 1 tháng 9 của năm trước năm diễn ra cuộc thi.
- Bài hát không được dài quá 3 phút.
Nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]
- Nghệ sĩ chỉ được phép hát trực tiếp trên sân khấu với nhạc nền nhưng không có bất cứ giọng người nào kể cả nhóm bè.
- Nghệ sĩ không được phép trình diễn cho trên hai quốc gia trong một cuộc thi.
- Mỗi phần trình diễn trên sân khấu chỉ được phép có tối đa 6 người. Người trình diễn trong vòng Bán kết phải đủ hoặc trên 16 tuổi vào ngày thi Chung kết. Người trình diễn trong vòng Chung kết phải đủ hoặc trên 16 tuổi vào ngày thi Chung kết.
- Động vật không được phép lên sân khấu
- Ca sĩ tham gia thông qua những đài truyền hình thuộc hệ thống EBU của quốc gia mình, sau đó sẽ lựa chọn một ca sĩ và một bài hát để tiếp tục đại diện cho quốc gia mình đi thi quốc tế.
Phát sóng[sửa | sửa mã nguồn]
- Những nước tham gia đưa ra những bài hát của mình, cuộc trình diễn sẽ được truyền trực tiếp trên mạng EBU tới mọi nước từ một sân khấu trong thành phố chủ nhà.
- Cuộc thi còn được phát sóng trực tiếp trên trang web chính thức của chương trình (eurovision.tv) và thông qua Youtube kể từ năm 2015.
Trình diễn[sửa | sửa mã nguồn]
- Mỗi một bài hát chỉ được thể hiện trực tiếp một lần trong một đêm và phải hát trực tiếp.
- Từ năm 1956 đến năm 1998, nhạc nền của các bài hát sẽ được dàn nhạc của cuộc thi chơi. Từ năm 1999 trở đi, nhạc nền của các bài hát được phát từ đĩa nhạc được gửi đến. Tuy nhiên trong đó không được phép có giọng người.
Quốc gia tham dự[sửa | sửa mã nguồn]
- Không có giới hạn về số lượng quốc gia tham dự cuộc thi nhưng chỉ có khoảng 25 hoặc 26 (riêng năm 2015 là 27) quốc gia được vào chung kết.
- 20 quốc gia có số điểm cao nhất sau hai vòng bán kết sẽ được vào chung kết: 10 quốc gia từ bán kết 1 và 10 quốc gia từ bán kết 2.
- Nước chủ nhà và năm quốc gia Anh, Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha (được gọi là "Big Five") được đặc cách vào thẳng vòng chung kết vì các quốc gia này đóng góp tài chính cho cuộc thi nhiều nhất.
Bình chọn[sửa | sửa mã nguồn]
Thể lệ bình chọn của các cuộc thi đã có nhiều thay đổi. Dưới đây là thể lệ bình chọn của cuộc thi năm 2016
- Một ngày trước ngày phát sóng, hội đồng giám khảo các quốc gia tham dự sẽ ngồi lại để xem buổi tổng duyệt thứ hai của vòng Bán kết hoặc Chung kết và sau đó kết quả của ban giám khảo từng quốc gia sẽ được gửi đến EBU để tổng hợp.
- Sau khi tất cả các bài hát đã được trình diễn, khán giả có 15 phút để bình chọn ca khúc mình yêu thích với đài truyền hình địa phương, nhưng không được quyền bình chọn cho ca khúc của nước mình bằng cách gọi điện thoại, SMS hoặc bình chọn qua ứng dụng của chương trình.
- Phiếu bình chọn sẽ được tính tổng theo từng quốc gia và được chuyển thành điểm.
- Số điểm bình chọn của khán giả cộng với số điểm của hội đồng giám khảo của từng quốc gia sẽ được cộng lại trong vòng bán kết. Mười quốc gia có điểm cao nhất trong hai vòng bán kết sẽ được tham gia vòng chung kết.
- Trong vòng Chung kết, mỗi quốc gia phải công bố số điểm bình chọn của quốc gia đó. Mười ca khúc nhận được số phiếu nhiều nhất sẽ được công bố trên màn hình.
- Các quốc gia sẽ bình chọn theo cấu trúc sau: 12 điểm dành cho quốc gia được bình chọn nhiều nhất, 10 điểm dành cho quốc gia được bình chọn nhiều thứ hai và từ 8 điểm đến 1 điểm cho 8 quốc gia được bình chọn nhiều thứ 3 đến quốc gia có bình chọn cao thứ 10.
- Người công bố kết quả của mỗi quốc gia sẽ công bố kết quả của Hội đồng giám khảo quốc gia đó. Sau đó, Người dẫn chương trình sẽ công bố kết quả bình chọn của khán giả (kết quả của từng quốc gia cộng lại với nhau).
- Điểm số của Hội đồng Giám khảo sẽ được hiện trên màn hình theo cấu trúc:
- Từ 1 điểm đến 8, 10 điểm xuất hiện trước.
- Sau đó người công bố kết quả sẽ đọc tên quốc gia giành được 12 điểm của quốc gia đó.
- Sau đó, người dẫn chương trình sẽ công bố điểm bình chọn của khán giả. Điểm sẽ xuất hiện cho quốc gia có ít phiếu bình chọn nhất và từ đó tăng dần và kết thúc ở quốc gia có nhiều phiếu bình chọn nhất. Điều đó đồng nghĩa quán quân của chương trình sẽ được tiết lộ ở phút cuối cùng của phần bình chọn.
- Cuối cùng, quốc gia nào nhận được nhiều điểm nhất sẽ chiến thắng và dĩ nhiên quốc gia đó giành được quyền đăng cai cuộc thi tiếp theo. Nếu có hơn hai quốc gia đồng điểm cao nhất thì quốc gia nào trong những quốc gia đồng điểm có nhiều quốc gia khác bình chọn hơn sẽ thắng. Nễu vẫn chưa tìm ra người thắng cuộc thì trong số các quốc gia đồng điểm, quốc gia nào có nhiều điểm 12 nhất sẽ thắng.
- Giải thưởng chiến thắng thật không thể lớn hơn niềm vinh dự khi được đăng cai cuộc thi này.
Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]
- Ireland là nước thắng nhiều giải Eurovision nhất kể từ khi giải được khởi động năm 1956, với bảy lần bước lên bục vinh quang. Johnny Logan của Ireland thắng giải 3 lần, 2 lần là ca sĩ (vào năm 1980 và 1987) và 1 lần là nhạc sĩ (tác giả ca khúc Why me đoạt giải năm 1992).
- ABBA là ban nhạc thành công nhất sau khi thắng giải năm 1974. Céline Dion là ca sĩ nổi tiếng, từ khi thắng giải năm 1988.
- Ca khúc tham gia Eurovision được hát lại nhiều nhất là Nel blu, dipinto di blu (Volare), hạng 3 năm 1958, đã từng được những ca sĩ nổi danh như Frank Sinatra, Cliff Richard, David Bowie, Dean Martin và nhiều người nữa hát lại.
- Năm 2008 và 2011 là năm có nhiều quốc gia tham gia nhất: 43 quốc gia, trong đó 25 quốc gia vào chung kết. Cũng là kỷ lục với sự tường thuật của 2600 phóng viên đến từ khắp thế giới và cuộc thi được phát sóng trực tiếp tại hơn 40 quốc gia với phỏng chừng 100 triệu khán giả theo dõi.
- Có vài quốc gia có lãnh thổ không thuộc châu Âu nhưng cũng tham dự cuộc thi, như Israel tham gia từ năm 1973 (và cũng đã 3 lần thắng giải), Marốc (tham gia năm 1980), và Úc là quốc gia mới nhất tham dự cuộc thi lần đầu tiên với cương vị là khách mời năm 2015 để kỷ niệm 60 năm chương trình.
Quốc gia tham gia[sửa | sửa mã nguồn]
Những cuộc thi cho đến nay[sửa | sửa mã nguồn]
Thông tin cụ thể: Danh sách các cuộc thi Eurovision Song Contest
| Năm | Nơi tổ chức và tên cuộc thi | Quốc gia thắng giải | Ca khúc | Nghệ sĩ | Hạng 2 và 3 |
|---|---|---|---|---|---|
| 1956 | Gran Premio Eurovisione della Canzone Europea (Lugano, Thụy Sĩ) | Refrain | Lys Assia | không được thông báo | |
| 1957 | Grand Prix Eurovision (Frankfurt am Main, Đức) | Net als toen | Corry Brokken | 2. La belle amour, Pháp 3. Skibet skal sejle i nat, Đan Mạch |
|
| 1958 | Grand Prix Eurovision de la Chanson Européenne (Hilversum, Hà Lan) | Dors mon amour | André Claveau | 2. Giorgio, Thụy Sĩ 3. Nel blu, dipinto di blu, Ý |
|
| 1959 | Grand Prix Eurovision de la Chanson Européenne (Cannes, Pháp) | Een beetje | Teddy Scholten | 2. Sing Little Birdie, Anh Quốc 3. Oui, oui, oui, oui, Pháp |
|
| 1960 | Eurovision Song Contest (Luân Đôn, Anh Quốc) | Tom Pillibi | Jacqueline Boyer | 2. Looking High, High, High, Anh Quốc 3. Ce soir-là, Monaco |
|
| 1961 | Grand Prix Eurovision de la Chanson Européenne (Cannes, Pháp) | Nous les amoureux | Jean-Claude Pascal | 2. Are You Sure, Anh Quốc 3. Nous aurons demain, Thụy Sĩ |
|
| 1962 | Grand Prix Eurovision de la Chanson Européenne (Thành phố Luxembourg, Luxembourg) | Un premier amour | Isabelle Aubret | 2. Dis rien, Monaco 3. Petit bonhomme, Luxembourg |
|
| 1963 | Eurovision Song Contest (Luân Đôn, Anh Quốc) | Dansevise | Grethe & Jørgen Ingmann | 2. T'en va pas, Thụy Sĩ 3. Uno per tutte, Ý |
|
| 1964 | Grand Prix Eurovision (Copenhagen, Đan Mạch) | Non ho l'età | Gigliola Cinquetti | 2. I Love The Little Things, Anh Quốc 3. Où sont-elles passées, Monaco |
|
| 1965 | Gran Premio Eurovisione della Canzone (Napoli, Ý) | Poupée de cire, poupée de son | France Gall | 2. I Belong, Anh Quốc 3. N'avoue jamais, Pháp |
|
| 1966 | Grand Prix Eurovision de la Chanson Européenne (Thành phố Luxembourg, Luxembourg) | Merci Chérie | Udo Jürgens | 2. Nygammal vals eller hip man svinaherde, Thụy Điển 3. Intet er nytt under solen, Na Uy |
|
| 1967 | Grand Prix de la Chanson (Viên, Áo) | Puppet On A String | Sandie Shaw | 2. If I Could Choose, Ireland 3. Il doit faire beau là-bas, Pháp |
|
| 1968 | Eurovision Song Contest (Luân Đôn, Anh Quốc) | La, la, la... | Massiel | 2. Congratulations, Anh Quốc 3. La source, Pháp |
|
| 1969[9] | Gran Premio de la Canción de Eurovision (Madrid, Tây Ban Nha) | Vivo cantando Un jour, un enfant De troubadour Boom bang a bang |
Salomé Frida Boccara Lenny Kuhr Lulu |
(bỏ, vì có 4 hạng 1) | |
| 1970 | Eurovisie Songfestival (Amsterdam, Hà Lan) | All Kinds Of Everything | Dana | 2. Knock, Knock, Who's There, Anh Quốc 3. Wunder gibt es immer wieder, Đức |
|
| 1971 | Eurovision Song Contest (Dublin, Ireland) | Un banc, un arbre, une rue | Séverine | 2. En un mundo nuevo, Tây Ban Nha 3. Diese Welt, Đức |
|
| 1972 | Eurovision Song Contest (Edinburgh, Anh Quốc) | Après toi | Vicky Leandros | 2. Beg, Steal Or Borrow, Anh Quốc 3. Nur die Liebe lässt uns leben, Đức |
|
| 1973 | Concours Eurovision de la Chanson (Thành phố Luxembourg, Luxembourg) | Tu te reconnaîtras | Anne-Marie David | 2. Eres tú, Tây Ban Nha 3. Power To All Our Friends, Anh Quốc |
|
| 1974 | Eurovision Song Contest (Brighton, Anh Quốc) | Waterloo | ABBA | 2. Si, Ý 3. I See A Star, Hà Lan |
|
| 1975 | Eurovision Song Contest (Stockholm, Thụy Điển) | Ding-a-dong | Teach-In | 2. Let Me Be The One, Anh Quốc 3. Era, Ý |
|
| 1976 | Eurovisie Songfestival (Den Haag, Hà Lan) | Save Your Kisses For Me | Brotherhood of Man | 2. Un, Deux, Trois, Pháp 3. Toi, la musique et moi, Monaco |
|
| 1977 | Eurovision Song Contest (Luân Đôn, Anh Quốc) | L'oiseau et l'enfant | Marie Myriam | 2. Rock Bottom, Anh Quốc 3. It's Nice To Be In Love Again, Ireland |
|
| 1978 | Concours Eurovision de la Chanson (Paris, Pháp) | A-Ba-Ni-Bi | Yizhar Cohen & Alpha Beta | 2. L'amour ca fait chanter la vie, Bỉ 3. Il y aura toujours des violons, Pháp |
|
| 1979 | Eurovision Song Contest (Jerusalem, Israel) | Hallelujah | Gali Atari & Milk and Honey | 2. Su canción, Tây Ban Nha 3. Je suis l'enfant-soleil, Pháp |
|
| 1980 | Eurovisie Songfestival (Den Haag, Hà Lan) | What's Another Year | Johnny Logan | 2. Theater, Đức 3. Love Enough For Two, Anh Quốc |
|
| 1981 | Eurovision Song Contest (Dublin, Ireland) | Making Your Mind Up | Bucks Fizz | 2. Johnny Blue, Đức 3. Humanahum, Pháp |
|
| 1982 | Eurovision Song Contest (Harrogate, Anh Quốc) | Ein bißchen Frieden | Nicole | 2. Hora, Israel 3. Amour on t'aime, Thụy Sĩ |
|
| 1983 | Eurovision Song Contest (München, Đức) | Si la vie est cadeau | Corinne Hermès | 2. Chai, Chai, Chai, Israel 3. Främling, Thụy Điển |
|
| 1984 | Concours Eurovision de la Chanson (Thành phố Luxembourg, Luxembourg) | Diggi-loo diggi-ley | Herreys | 2. Terminal 3, Ireland 3. Lady Lady, Tây Ban Nha |
|
| 1985 | Eurovision Song Contest (Göteborg, Thụy Điển) | La det swinge | Bobbysocks | 2. Für alle, Đức 3. Bra vibrationer, Thụy Điển |
|
| 1986 | Eurovision Song Contest (Bergen, Na Uy) | J'aime la vie | Sandra Kim | 2. Pas pour moi, Thụy Sĩ 3. L'amour de ma vie, Luxembourg |
|
| 1987 | Concours Eurovision de la Chanson (Brusel, Bỉ) | Hold Me Now | Johnny Logan | 2. Lass' die Sonne in Dein Herz, Đức 3. Gente di mare, Ý |
|
| 1988 | Eurovision Song Contest (Dublin, Ireland) | Ne partez pas sans moi | Céline Dion | 2. Go, Anh Quốc 3. Ka' du se hva' jeg sa', Đan Mạch |
|
| 1989 | Concours Eurovision de la Chanson (Lausanne, Thụy Sĩ) | Rock Me | Riva | 2. Why Do I Always Get It Wrong, Anh Quốc 3. Vi maler byen rød, Đan Mạch |
|
| 1990 | Eurovision Song Contest (Zagreb, Nam Tư, nay thuộc Croatia) | Insieme 1992 | Toto Cutugno | 2. White & Black Blues, Pháp 2. Somewhere In Europe, Ireland |
|
| 1991 | Concorso Eurovisione della Canzone (Roma, Ý) | Fångad av en stormvind | Carola | 2. Le dernier qui a parlé, Pháp 3. Kan, Israel |
|
| 1992 | Eurovision Song Contest (Malmö, Thụy Điển) | Why Me | Linda Martin | 2. One Step Out Of Time, Anh Quốc 3. Little Child, Malta |
|
| 1993 | Eurovision Song Contest (Millstreet, Ireland) | In your eyes | Niamh Kavanagh | 2. Better The Devil You Know, Anh Quốc 3. Moi tout simplement, Thụy Sĩ |
|
| 1994 | Eurovision Song Contest (Dublin, Ireland) | Rock'n Roll kids | Paul Harrington / Charlie McGettigan | 2. To nie ja, Ba Lan 3. Wir geben 'ne Party, Đức |
|
| 1995 | Eurovision Song Contest (Dublin, Ireland) | Nocturne | Secret Garden | 2. Vuelve conmigo, Tây Ban Nha 3. Se på mig, Thụy Điển |
|
| 1996 | Eurovision Song Contest (Oslo, Na Uy) | The Voice | Eimear Quinn | 2. I evighet, Na Uy 3. Den Vilda, Thụy Điển |
|
| 1997 | Eurovision Song Contest (Dublin, Ireland) | Love shine a light | Katrina and the Waves | 2. Mysterious Woman, Ireland 3. Dinle, Thổ Nhĩ Kỳ |
|
| 1998 | Eurovision Song Contest (Birmingham, Anh Quốc) | Diva | Dana International | 2. Where Are You, Anh Quốc 3. The One That I Love, Malta |
|
| 1999 | Eurovision Song Contest (Jerusalem, Israel) | Take Me To Your Heaven | Charlotte Nilsson | 2. All Out Of Luck, Iceland 3. Reise nach Jerusalem / Kudüs'e seyahat, Đức |
|
| 2000 | Eurovision Song Contest (Stockholm, Thụy Điển) | Fly On The Wings Of Love | Olsen Brothers | 2. Solo, Nga 3. My Star, Latvia |
|
| 2001 | Eurovision Song Contest (Copenhagen, Đan Mạch) | Everybody | Tanel Padar & Dave Benton | 2. Never Ever Let You Go, Đan Mạch 3. Die For You, Hy Lạp |
|
| 2002 | Eurovision Song Contest (Tallinn, Estonia) | I Wanna | Marie N | 2. 7th Wonder, Malta 3. Runaway, Estonia 3. Come Back, Anh Quốc |
|
| 2003 | Eurovision Song Contest (Riga, Latvia) | Everyway That I Can | Sertab Erener | 2. Sanomi, Bỉ 3. Ne ver, ne boisja, Nga |
|
| 2004 | Eurovision Song Contest (Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ) | Wild Dances | Ruslana | 2. Lane Moje, Serbia và Montenegro 3. Shake It, Hy Lạp |
|
| 2005 | Eurovision Song Contest (Kiev, Ukraina) | My Number One | Helena Paparizou | 2. Angel, Malta 3. Let Me Try, România |
|
| 2006 | Eurovision Song Contest (Athena, Hy Lạp) | Hard Rock Hallelujah | Lordi | 2. Never let you Go, Nga 3. Lejla, Bosna và Hercegovina |
|
| 2007 | Eurovision Song Contest (Helsinki, Phần Lan) | Molitva | Marija Šerifović | 2. Dancing Lasha Tumbai, Ukraina 3. Song Number One, Nga |
|
| 2008 | Eurovision Song Contest (Beograd, Serbia) | Believe | Dima Bilan | 2. Shady Lady?, Ukraina 3. Secret Combination, Hy Lạp |
|
| 2009 | Eurovision Song Contest (Moskva, Nga) | Fairytale | Alexander Rybak | 2. Is It True?, Iceland 3. Always, Azerbaijan |
|
| 2010 | Eurovision Song Contest (Oslo, Na Uy) | Satellite | Lena Meyer-Landrut | 2. We Could Be the Same, Thổ Nhĩ Kỳ 3. Playing with Fire, Rumani |
|
| 2011 | Eurovision Song Contest (Düsseldorf, Đức) | Running Scared | Ell & Nikki | 2. Madness of Love, Ý 3. Popular, Thụy Điển |
|
| 2012 | Eurovision Song Contest (Baku, Azerbaijan) | Euphoria | Loreen | 2. Party For Everybody, Nga 3. Nije Ljubav Stvar, Serbia |
|
| 2013 | Eurovision Song Contest (Malmö, Thụy Điển) | Only Teardrops | Emmelie de Forest | 2. Hold Me, Azerbaijan 3. Gravity, Ukraine |
|
| 2014 | Eurovision Song Contest (Copenhagen, Đan Mạch) | Rise Like a Phoenix | Conchita Wurst | 2. Calm After the Storm, Hà Lan 3. Undo, Thụy Điển |
|
| 2015 | Eurovision Song Contest (Viên, Áo) | Heroes | Måns Zelmerlöw | 2. A Million Voices, Nga 3. Grande Amore, Ý |
|
| 2016 | Eurovision Song Contest (Stockholm, Thụy Điển) | 1944 | Jamala | 2.Sound of Silence, Úc 3. You Are the Only One, Nga |
|
| 2017 | Eurovision Song Contest (Kiev, Ukraina) | Amar Pelos Dois | Salvador Sobral | 2. Beautiful Mess, Bulgaria 3. Hey Mamma, Moldova |
Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]
- ^ “Eurovision Song Contest awarded Guinness world record”. Eurovision.tv.
- ^ Staff (ngày 21 tháng 5 năm 2006). “Finland wins Eurovision contest”. Al Jazeera English. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2007.
- ^ Murray, Matthew. “Eurovision Song Contest – International Music Program”. Museum of Broadcast Communications. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2006.
- ^ “Eurovision Trivia” (PDF). BBC Online. 2002. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2006.
- ^ “Eurovision Song Contest 1972”. European Broadcasting Union. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Eurovision Song Contest 2004 Final”. European Broadcasting Union. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2009.
- ^ Philip Laven (tháng 7 năm 2002). “Webcasting and the Eurovision Song Contest”. European Broadcasting Union. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
- ^ “Official information page” (bằng tiếng Pháp). European Broadcasting Union. Ngày 10 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2008.
- ^ 1969 có đến 4 giải nhất
Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]
| Wikimedia Commons có thư viện hình ảnh và phương tiện truyền tải về Eurovision Song Contest |
- Trang web chính thức
- Kênh YouTube chính thức, tại đó có thể xem phần trình diễn nhiều bài hát dự thi cũ.
|
||||||